Advertisement

Free Traffic Exchange
Hiển thị các bài đăng có nhãn ứng dụng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ứng dụng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2016

Hãy tắt facebook và đi tưới cây

Tôi nghĩ rằng việc bảo vệ môi trường chỉ mang thể thực hiện 1 bí quyết có hiệu quả lúc mà chúng ta giàu. Bởi vì khi chưa giàu, rồi chúng ta cũng sẽ bào mòn môi trường để ăn dần. Đừng để bị định hướng ánh mắt nhìn về Formosa. Hãy quay qua 1 hướng khác, nơi đang ko với báo chí nào để mắt đến, đấy là các làng nghề truyền thống.

Theo thông tin của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2015, chúng ta sở hữu tới hơn 5000 làng nghề và làng với làng nghề. Cả nước hiện với hơn 1000 làng nghề được công nhận là làng nghề truyền thống. Và mọi trong số ấy đều đang đứng trong tình trạng ô nhiễm môi trường đáng báo động. Bộ này còn có biết với các địa phương mức độ ô nhiễm kim loại nặng (Cr6) đã gấp 3000 lần mức cho phép. Và chúng ta cũng không lạ gì có cụm từ "làng ung thư", chỉ là đang tạm quên đi vì cụm từ "Vũng Áng" hay "Formosa" đang nóng hơn mà thôi. những làng nghề ở xã Thạch Sơn (Lâm Thao, Phú Thọ) hay Dục Tú 3 (Đông Anh, Hà Nội) đã dẫn đến dòng chết của hàng trăm người vì bệnh ung thư, lao phổi, viêm họng, bệnh gan do khói bụi và chất độc từ hoạt động cung ứng gây ra.
Hãy thôi nhìn ra biển chi cho xa, hãy nhìn lại chính các con sông, con rạch, con mương ngay trước nhà, sau nhà, hay sắp nhà, dễ dàng thấy ngay chúng đen kịt. Ở ấy ko với Formosa, ko sở hữu khu công nghiệp nghìn tỉ, chỉ với những làng nghề thủ công, đem lại năng suất lao động tốt, tích luỹ xã hội ít, nhưng vẫn tàn phá môi trường không kém.
Thậm chí ở những nơi chẳng cung cấp gì, như kênh Nhiêu Lộc, Thị Nghè vẫn đen kịt, nhiều chiếc kênh khác giữa Sài Gòn trở thành kênh chết dù chẳng sở hữu hoạt động cung ứng công nghiệp gì quanh đó.
Chúng ta đòi giữ môi trường, ko lớn mạnh công nghiệp nặng, chúng ta đòi giữ cá, giữ tôm. Nhìn lại đi, chúng ta đánh bắt cá trên biển bằng mìn, bằng độc, bằng lưới cào. Chúng ta đánh bắt tận diệt. Vậy thì chúng ta nhân danh dòng gì để kể chúng ta yêu môi trường, kêu gọi giữ lấy môi trường? Trên cơ sở nào để vững chắc rằng chúng ta sẽ trồng cây, sẽ nuôi tôm nuôi cá, không khiến cho hại môi trường lúc mà loại bụng chúng ta chưa no?
Hãy tắt facebook và đi tưới cây - ảnh 1
Sông rạch vẫn ngập ngụa rác trong lúc chúng ta vẫn ra rả kêu gọi bảo vệ môi trường - Ảnh: Phạm Dự
Chúng ta đã sở hữu 1 thời gian hàng mấy nghìn năm có 1 nền công nghiệp gần như bằng ko, chúng ta chưa hề giàu với. Và lúc chưa sở hữu các nhà máy, khu công nghiệp, môi trường cũng chẳng phải được giữ gìn hay trân quý như chúng ta đang hô hào. Trải qua hàng nghìn năm, là 1 nước nông nghiệp nhưng chúng ta chưa thể phát minh ra được cách đánh bắt nào mới và hiệu quả ngoài mìn và lưới cào. Cũng từng ấy năm chúng ta loay hoay chưa biết trồng cây gì ko kể lúa. Thậm chí, chúng ta đánh bắt luôn vào mùa cá đẻ và đốn ngay chiếc cây đang trồng để trồng vật dụng khác lợi nhuận hơn mà chẳng phải nghĩ gì tới biến đổi môi trường hay khí hậu từ những việc làm cho ấy. Chúng ta đánh bắt ngày càng xa bờ, nghĩa là nguồn cá chúng ta ngày càng cạn kiệt. Chúng ta trồng trọt ngày càng nhiều phân bón, hoá chất hơn, nghĩa là đất đai chúng ta ngày càng cằn cỗi. Chúng ta đã có thời gian sống sở hữu thiên nhiên quá lâu, nhưng chúng ta chỉ bào mòn nó đi thôi, và chưa phát minh ra được gì để cứu lấy nó cả.
Bảo vệ môi trường bằng những việc nhỏ nhất
Hàng năm chúng ta có hầu hết các phong trào, những cuộc phát động bảo vệ môi trường, nhưng rồi hầu như kết quả đạt được đều tương đối khiêm tốn. Giữa thế kỷ 21, chúng ta vẫn gắn liền những lễ hội của mình sở hữu rác, cứ chỗ nào đông người 1 chút là thành bãi rác ngay sau ấy.
Vào nhiều trường học, cơ quan, công sở, dễ bắt gặp việc không tắt các đồ vật điện sau khi dùng xong xảy ra như cơm bữa.
Ngay trong khuôn viên những trường đại học, việc phân loại rác tại nguồn vẫn còn hơi xa xỉ. Và tôi e rằng rộng rãi sinh viên ko thể trả lời được rác sinh hoạt tại nguồn phân ra thành mấy mẫu.
Chúng ta sử dụng điện, dùng xăng, dùng nhiên liệu thiên nhiên 1 bí quyết vô tội vạ, chúng ta lười vận động, chúng ta luôn sắm bí quyết đổ thừa.
Điều ấy cho thấy rằng chúng ta thật sự vẫn chưa sẵn sàng cho việc bảo vệ môi trường mà chúng ta vẫn đang ra rả kêu gọi.
vì thế, hãy khoan nói tới chuyện Formosa xả thải lúc mà không khí chúng ta đang hít thở mỗi ngày chưa chắc đã ít độc hại hơn nước biển miền Trung. Và ko sở hữu Formosa nào xả thải ở Sài Gòn hay Hà Nội hết, tự chúng ta mang ngút ngàn xe máy, ô tô và hàng đống giờ kẹt xe giữa phố đã đủ tự đầu độc mình rồi.
Hãy bảo vệ môi trường bằng việc phân mẫu rác tại nguồn, tiết kiệm năng lượng tại nhà riêng, siêu thị, ủng hộ những chính sách của chính phủ về việc hạn chế phương tiện lưu thông cá nhân.v.v... sẽ thiết thực hơn phổ biến lần việc tiêu tốn điện năng cho việc lên facebook kêu gào chọn lựa giữa cá tôm hay nhà máy.
nếu cho tôi chọn lựa giữa cá tôm hay nhà máy thép, tôi tậu tắt facebook và đi tưới rau vì tôi tin rằng bộ máy chính phủ mang rộng rãi nhà cố vấn chuyên môn tầm cỡ sẽ tìm lựa chính xác hơn 1 anh công nhân mới thấp nghiệp đại học với tấm bằng kỹ sư như tôi.

Chủ Nhật, 20 tháng 3, 2016

Áp lực chất lỏng lên thành phẳng


Trong xây dựng thủy lợi, xây dựng đê đập kênh mương, hoặc khi xây dựng các bể chứa luôn cần tính toán áp lực tác dụng của chất lỏng lên thành chứa. Trong bài này mình sẽ trình bày và phân tích cách xây dựng công thức tính toán áp lực lên thành phẳng trong Thủy tĩnh học.Đây cũng chính là cơ sở để giải các bài tập thủy tĩnh học cơ bản.





Trong bài này có sử dụng kiến thức về mômen tĩnh và mômen quán tính của tiết diện ngang. Bạn nào cần tìm hiểu có thể tải file này về tìm hiểu:
Bây giờ chúng ta đi nghiên cứu bài toàn này.
I. Bài toán
Sử dụng phương trình cơ bản thủy tĩnh học để xác định áp lực tổng hợp của chất lỏng lên thành phẳng, nằm nghiêng với phương ngang 1 góc α (hình vẽ). Chúng ta cần tính áp lực F tác dụng từ hướng chất lỏng lên 1 phần của thành phẳng, được giởi hạn bởi chu tuyến (đường cong kín) có diện tích bằng S.




Trục Ox hướng theo đường giao tuyến giữa thành phẳng với mặt thoáng của chất lỏng, trục Oy vuông góc với trục Ox và nằm trong mặt phẳng của thành phẳng.
Trước hết cần xác định thành phần áp lực tác dụng lên phần diện tích vô cùng nhỏ dS:
dF=pdS=(po+ρgh)dS= podS+ρghdS ;
Ở đó: po – áp suất tại mặt thoáng chấ lỏng; h – độ sâu từ mặt thoáng tới phần diện tích dS.
Để xác định áp lực toàn phần ta cần lấy tích phân dF theo toàn bộ diện tích S.
Ta có:
F = p_o\int\limits_S^{} dS  + \rho g\int\limits_S^{} hdS  = p_oS + \rho g\sin \alpha \int\limits_S^{} ydS
Ở đó y – tọa độ diện tích dS.
Tích phân cuối là momen tĩnh của diện tích S đối với trục Ox và bằng diện tích của nó nhân với tọa độ tâm khối.
\int\limits_S^{} ydS  = y_C \cdot S
Suy ra ta có:
F = poS + ρghCS ; (1.1)
Với công thức (1.1) này ta có thể nghiệm chứng lại định luật Pascal « Chất lỏng truyền áp suất nguyên vẹn theo mọi hướng » . Ở đây ta thấy môi trường chất lỏng đã truyền áp suất p0 trên bề mặt thoáng chất lỏng nguyên vẹn tới mọi điểm trên mặt phẳng S. Nếu p0 thay đổi 1 lượng ∆p thì tương ứng tại mỗi điểm trên mặt S áp suất cũng thay đổi một lượng ∆p. ( Đây chính là ý nghĩa của định luật Pascal)
Ở đó hC – độ sâu của tâm khối của diện tích S, hC = yC∙sinα;
Hay F=(po + ρghC)S=pCS (1.2)

Phát biểu cho công thức (1.2): Áp lực toàn phần của chất lỏng lên thành phẳng bằng tích diện tích thành phẳng nhân với áp suất thủy tĩnh tại tâm khối của thành phẳng đó.

Nhận xét

1. Theo công thức (1.1) ta có thể coi thành phần ρghCS là áp lực sinh ra bởi chính chất lỏng, còn thành phần poS là áp lực sinh không phải bởi chất lỏng. Trong trường hợp tổng quát áp lực tổng hợp thành phẳng phải chịu chính là tổng hợp 2 thành phần lực: thành phần lực sinh ra bởi chất lỏng Fcl và thành phần lực sinh ra không phải do chất lỏng Fn. Với Fn ta hiểu nó không phải sinh ra do mỗi áp suất p0 như trường hợp trên, mà còn phải kể tới do các ngoại lực khác, từ các hướng khác nhau nữa. Riêng thành phần Fcl = ρghC về mặt độ lớn Fcl tương đương với trọng lượng Pcl của khối chất lỏng giới hạn bởi một trụ đứng chiều cao hC, diện tích 2 mặt đáy là S. ( Lưu ý: nói trụ đứng ở đây cần hiểu không nhất thiết phải là trụ tròn, vì S có thể có hình dạng bất kỳ – miễn là bao trong 1 chu tuyến kín)



2.Theo công thức (1.2) ta đưa ra khái niệm áp lực dư Fdư = pC.dưS.
Trong các trường hợp khi áp suất po=patm , và cũng tác động lên mặt ngoài của thành phẳng. Lúc này thành phần lực sinh ra do áp suất khi quyển ở 2 mặt trước và sau thành cân bằng, nên có độ lớn bằng 0.

Khi đó áp suất dư tại tâm khối pC.dư = pC – patm = ρghC . Thành phẳng phải chịu tác động áp lực toàn phần tác động lên thành phẳng bằng trọng lượng của khối chất lỏng.
Theo biểu thức pC.dưS = ρghCS hay Fdư = Pcl .

II. Xác định điểm đặt của áp lực toàn phần.
Như vậy ngoại áp lực sinh ra bởi p0 tại tất cả cả điểm diện tích S là như nhau, do đó lực tổng hợp sinh ra F0 – sẽ đặt vào trọng tâm của diện tích S. Để xác định điểm đặt sinh ra bởi áp lực Fcl – sinh ra do khối lượng chất lỏng, chúng ta sử dụng lý thuyết cơ học (Cơ lý thuyết). Khi đó mômen tổng hợp lực đối với trục Ox bằng tổng mômen các thành phần lực.
F_cly_D = \int\limits_S^{} ydF_cl

yD – tọa độ điểm đặt trọng lực khối chất lỏng.
y_D = \frac\rho g\sin \alpha \int\limits_S^ y^2dS \rho g\sin \alpha y_CS
Với J_x = \int\limits_S^{} y^2dS
Suy ra y_D = \fracJ_xy_CS
Jx = Jx0 + y­2CS;
Jx0 – momen quán tính của diện tích S so với trục đi qua trọng tâm C song song với Ox.
yD = yC + Jx0/ (yCS) (1.3)
Như vậy điểm đặt của lực Fcl – ở thấp hơn tâm khối của diện tích thành phẳng và cách 1 khoảng là
∆y=Jx0/(yCS)
Khi áp suất p0 = patm, và thành ngoài cũng chịu tác động của patm , thì điểm D sẽ là điểm đặt tổng hợp lực lên thành (do áp lực sinh ra 2 phía thành khử nhau). Khi po ≠ patm , điểm đặt của tổng hợp lực: F0 và Fcl xác định theo qui luật cơ học – cân bằng mômen; Khi đó F0 càng lớn, điểm đặt của tổng hợp lực càng gần trọng tâm C.

Thứ Bảy, 19 tháng 3, 2016

Nguyên lý hoạt động của thang máy thủy lực


Thang máy nguyên thủy có cấu tạo cực kỳ đơn giản gồm: một cái thùng gắn liền với một hệ thống nâng lên và hạ xuống. Hệ thống này có thể là dạng tời kéo dùng sức động vật, sức nước, hay vật nặng có tải trọng lớn.

Ngày nay, Thang máy hiện đại và thang máy vận chuyển hàng hóa có cấu tạo rất phức tạp so với khái niệm thang máy nguyên thủy. Nó cần hệ thống cơ khí tiên tiến để xử lý khối lượng đáng kể của cabin thang máy và hàng hóa. Ngoài ra, nó cần có cơ chế kiểm soát hành khách có thể vận hành thang máy, và các thiết bị an toàn để giữ cho mọi thứ hoạt động trơn tru.
Có hai thiết kế thang máy chủ yếu được sử dụng phổ biến hiện nay: thang máy thủy lực và thang máy chạy bằng máy kéo qua hệ thống dây cáp. Trong bài này chúng ta chỉ nghiên cứu phần nguyên lý hoạt động của thang máy thủy lực. Phân tích một số ưu, nhược điểm của hệ thống kiểu này.
Hệ thống thang máy thủy lực sử dụng một piston thủy lực để nâng cabin thang máy. Bạn có thể thấy hệ thống này hoạt động trong sơ đồ dưới đây.


*Nguyên lý hoạt động:
Hệ thống thủy lực gồm: 1 – xilanh thủy lực tác động đơn; 2 – piston; 4 – bơm thủy lực dẫn động bằng động cơ điện; 5 – valve; 6 – Bể chứa dầu.
Máy bơm ép dầu từ bể vào một đường ống dẫn đến xi lanh để nâng cabin thang máy lên, khi đó valve 5 đóng. Quá trình hạ cabin thang máy valve 5 được mở ra, tải trọng cabin ép chất lỏng theo ống dẫn qua valve 5 trở về bể chứa làm cabin hạ xuống.
Khi cabin thang máy bằng tầng, hệ thống điều khiển sẽ gửi một tín hiệu đến tủ điện để tắt máy bơm. Khi đó dầu thủy lực không tiếp tục được nén vào xi-lanh, lượng chất lỏng trong xilanh được giữ nguyên trong lòng xilanh làm cho thang máy dừng lại (Ở đây các hệ thống valve cần được khóa sau khi nhận tín hiệu điện để dầu thủy lực không chảy ngược qua máy bơm về bể chứa). Piston đứng yên, và cabin cũng đứng yên theo.
Quá trình hạ xuống cũng cần có tín hiệu điện điều khiển mở valve 5, tải trọng cabin tự ép chất lỏng về bể chứa và cabin được hạ xuống. Tín hiệu điện mở valve sẽ dừng lại ở tầng được yêu cầu.

*Ưu điểm và khuyết điểm của thang thủy lực
Ưu điểm chính của hệ thống thang máy thủy lực là có thể dễ dàng dùng một lực tương đối nhỏ của động cơ máy bơm để tạo ra lực tương đối mạnh cần thiết để nâng cabin thang máy.
Nhưng các hệ thống này có hai nhược điểm lớn. Vấn đề chính là kích thước của thiết bị. Để cho cabin thang máy có thể tiếp cận với các tầng cao hơn, bạn phải thực hiện các piston dài hơn. Nhưng vẫn phải đảm bảo xi lanh dài hơn một chút so với piston để khi cabin thang máy ở tầng thấp nhất vẫn đảm bảo piston không kịch xi lanh.
Vấn đề là toàn bộ cấu trúc xi lanh phải được ở dưới đáy thang máy khi thang ở tầng thấp nhất. Điều này có nghĩa là bạn phải đào sâu hố PIT hơn khi bạn xây dựng cao hơn. Đây là một dự án tốn kém với các tòa nhà cao tầng. Để lắp đặt một thang máy thủy lực trong một tòa nhà 10 tầng, ví dụ, bạn sẽ cần phải đào sâu hố PIT tương đương với độ cao của 9 tầng. (Ở đây có thể sử dụng xilanh nhiều tầng để khắc phục)

Nhiệm vụ và cách chọn dầu thủy lực phù hợp

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại dầu thủy lực với những đặc tính khác nhau.Vậy làm thể nào để lựa chọn được dầu thủy lực một cách tốt nhất. Trong bài này chúng ta sẽ đi tìm hiểu về nhiệm vụ của dầu thủy lực và cách lựa chọn dầu thủy lực phù hợp.
Nhiệm vụ của dầu thủy lực:
Nhiệm vụ quan trọng nhất của dầu thủy lực là truyền tải năng lượng nhưng dầu thủy lực còn có tác dụng bôi trơn, giảm ma sát sinh ra do sự chuyển động của các thành phần trong hệ thống, điều này sinh ra nhiệt năng. Ngoài ra, dầu thủy lực còn có nhiệm vụ loại bỏ các hạt rắn, tạp chất bẩn và ma sát khỏi hệ thống, chống lại sự ăn mòn.
Yêu cầu của dầu thủy lực:
• Đặc tính bôi trơn tốt;
• Đặc tính chịu mòn tốt;
• Độ nhớt phù hợp;
• Hạn chế sự ăn mòn tốt;
• Đặc tính chống tạo bọt khí tốt;
• Ngăn nước tốt.
Những loại chất lỏng có thể dùng trong thủy lực:
• Dầu thủy lực gốc khoáng.
• Dầu thủy lực gốc nước.
• Dầu hỗn hợp
• Chất lỏng nhân tạo.
Cách lựa chọn dầu thủy lực cho phù hợp:
Thông thường, dầu thủy lực được lựa chọn trên hai yếu tố chính: Thời tiết nơi thiết bị sử dụng và Các yêu cầu của bộ phận thủy lực sử dụng trong hệ thống truyền động thủy lực.
Độ nhớt: Sau khi chọn chủng loại dầu thủy lực phù hợp, bạn cần phải lựa chọn cấp độ nhớt của dầu cho phù hợp với khoảng nhiệt độ làm việc của thiết bị thủy lực. Theo ISO, cấp độ nhớt của dầu chỉ thị độ nhớt động lực học của dầu ở 40°C.
Có rất nhiều yêu cầu chất lượng khác nhau đối với dầu thủy lực nhưng điều quan trọng nhất trong số đó là độ nhớt của dầu không thay đổi nhiều với sự thay đổi của nhiệt độ.
1. Lựa chọn dầu thủy lực theo độ nhớt
- Ma sát trượt tăng lên, phát sinh ra nhiệt và tổn thất năng lượng lớn.
- Tổn thất trong mạch dầu tăng lên và tổn thất áp suất cũng tăng lên.
Nếu độ nhớt của dầu lựa chọn quá nhỏ thì:
- Rò rỉ trong bơm sẽ tăng lên, hiệu suất thể tích không đạt được và do đó áp suất làm việc yêu cầu không đáp ứng được.
- Do có sự rò rỉ bên trong của các valve điều khiển, xy lanh sẽ bị thu lại dưới tác dụng của phản lực, còn motor không thể sản ra đủ mô-men yêu cầu trên trục quay.
2. Lựa chọn dầu thủy lực theo vị trí địa lý nơi thiêt bị làm việc:
Theo vị trí địa lý và thời tiết từng vùng, người ta khuyến cáo nên sử dụng các phẩm cấp dầu như sau:
Vùng nhiệt đới: VG46 / AW 46 , Vùng ôn đới: VG32 / AW 32
Loại VG68 / AW 68 chỉ được sử dụng khi thiết bị làm việc trong môi trường không khí có nhiệt độ cao trong thời gian liên tục, lực ép cao, chịu tải nặng.

Kinh nghiệm kiểm tra dầu thủy lực


Bài viết này mình đọc trên trang web: http://dauthuyluc.com/ , xin được đăng lại trên blog của mình, chia sẻ cho mọi người kinh nghiệm kiểm tra mức độ ô nhiễm (nhiễm bẩn) của dầu thủy lực và phương pháp xử lý.

1. Kiểm tra bằng mắt
Kiểm tra bằng mắt chủ yếu thông qua việc quan sát màu sắc và thử mùi của dầu thủy lực để tiến hành đưa ra phán đoán. Nếu màu sắc của dầu thủy lực nhạt đi chúng ta nên xem xét đến khả năng có bị pha trộn với dầu tái sinh không, lúc cần thiết phải kiểm trả độ nhớt của dầu. Nếu màu sắc của dầu đậm hơn, thậm chí bắt đầu chuyển sang đen điều này thể hiện rõ ràng dầu đã bị biến chất hoặc bị nhiễm tạp chất. Như vậy nếu thời gian sử dụng dầu chưa lâu thì chứng tỏ máy lọc dầu đã bị hỏng hoặc bị nhiễm tạp bằng con đường khác. Nếu màu sắc của dầu đậm hơn nữa và không còn trong suốt và có vẩn đục, điều này chứng tỏ dầu đã hoàn toàn hỏng hoặc bị nhiễm tạp chất nghiêm trọng. Nếu màu sắc của dầu không thay đổi nhiều lắm nhưng có vẩn đục và không trong suốt, đây có khả năng trong dầu có lẫn nước, ít nhất là chứa 0,03% nước, lúc cần thiết phải tiến hành kiểm tra thành phần nước. Nhưng cần chú ý, có một số dầu thủy lực loại cao cấp lúc mới đổ vào trong hộp dầu khi mới nhìn qua tưởng như có vẩn đục, nhưng trải qua một quá trình vận hành máy dầu sẽ trở nên trong suốt và không bị mất đi tính năng vốn có, thì vẫn được coi là bình thường.


Bảng Độ Ô Nhiễm Của Dầu Thủy Lực Và Cách Xử Lý
Quan sát bằngmắt
Mùi vị
Tình trạng
Cách xử lý
Màu sắc dầutrong suốt, không thay đổi
Tốt
Tốt
Tiếp tục sửdụng
Dầu trongsuốt nhưng nhạt màu hơn
Tốt
Có pha trộndầu khác
Kiểm tra độnhớt, nếu tốt thì tiếp tục sử dụng
Dầu biếnthành nhủ trắng
Tốt
Có lẫnkhông khí và nước
Tách nước,thay một phần hoặc thay toàn bộ dầu
Dầu chuyểnsang màu đen hoặc nâu
Không tốt
Oxy hóa biếnchất
Thay toàn bộ
Dầu trongsuốt có chút một số điểm đen
Tốt
Có lẫn tạpchất
Sau khi lọc,kiểm tra các tiêu chuẩn có liên quan khác, nếu tốt thì sử dụng tiếp, khôngthì thay
Dầu trongsuốt và phát sáng
Tốt
Có lẫn bộtkim loại
Sau khi lọc,kiểm tra các tiêu chuẩn có liên quan khác, nếu tốt thì sử dụng tiếp, khôngthì thay

2. Kiểm tra độ nhớt
Độ nhớt dùng để đo lường các chỉ số chính của sự suy thoái dầu thủy lực. Trong phòng thí nghiệm của thể giới thông qua các thử nghiệm độ nhớt động học tiến hành đo lường định lượng. Mang các giá trị đo được đem so sánh với độ nhớt động học của dầu mới, nếu sự thay đổi vượt qua 10% giá trí phạm vi thay đổi thì nên thay dầu thủy lực mới.
Lúc kiểm tra tại hiện trường , các đơn giản là sử dụng 2 ống thử đường kính 10-15mm chiều dài 200 - 250 mm. Trong 2 ống thử ta đổ vào 1/3 dung tích 2 ống cùng một nhãn hiệu dầu thủy lực ( một ống dầu mới, 1 một ống dầu cũ), sau đó bị kín miếng ống. Trong cùng một điều kiện nhiệt độ, ta đồng thời đảo ngược 2 ống chứa dầu trên, cùng lúc kiểm tra thời gian gia tăng bọt trong dầu thủy lực. Nếu chênh lệch thời gian gia tăng bọt của dầu cũ và mới vượt qua 10% tổng thời gian gia tăng bọt của dầu mới, chứng tỏ độ biến đổi của dầu thủy lực đã vượt quá 10%, lúc này ta nên xem xét tiến hành lọc dầu hoặc thay dầu mới.

3. Kiểm tra thành phần nước
Thành phần nước là chỉ hàm lượng nước có trong dầu thủy lực, gây ô nhiễm thành phần chất lỏng trong dầu thủy lực. Hàm lượng nước trong dầu thủy lực thường được biểu thị dưới dạng %. Phương pháp tiêu chuẩn để đo lường thành phần nước trong dầu thủy lực ở phòng thí nghiệm là dùng phương pháp KAYL - FISHEY, chủ yếu dùng để đo độ ẩm trong dầu thủy lực. Nếu thao tác tiến hành tỉ mỉ có thể đo tới mới độ nhỏ nhất là 1ppm.
Tại hiện trường có thể áp dụng phương pháp đo lường bằng kinh nghiệm. Sử dụng một ống thử đường kính 15mm dài 150mm, đổ dầu thủy lực vào ống thử cho tới độ cao 50mm, sau đó lắc mạnh dầu mẫu ở trong ống, dùng kẹp ống để kẹp ống thử chứa dầu mẫu và hở trên đèn cồn để tăng nhiệt độ, nếu không có âm thanh rõ ràng chứng tỏ trong dầu không chứa thành phần nước, nếu liên tục phát ra âm thanh nhưng nhỏ và thời gian không vượt quá 20 - 30 s thì lượng nước trong dầu nhỏ hơn 0,03%, nếu liên tục phát ra âm thanh vượt quá 40 -50 s thì có thể đoán biết lượng nước trong dầu vào khoảng 0,05 - 0,10%. Lúc này ta nên xem xét tách nước ly tâm hoặc thay dầu.
Ngoài ra có thể sử dụng phương pháp lọc giấy để kiểm tra, nếu ở đường biên thấm lan của giọt dầu trên giấy có các đường viên ren thì chứng tỏ lượng nước trong dầu đã vượt tiêu chuẩn. Cũng có thể sử dụng phương pháp quan sát bằng mắt lượng hỗn tạp trong dầu để đánh giá hàm lượng nước trong dầu thủy lực.

Điều khiển dạng thể tích

Trong bài Điều khiển bằng van tiết lưu mình đã giới thiệu phương pháp thay đổi vận tốc cơ cấu chấp hành bằng van tiết lưu. Trong thực tế còn một phương pháp khác cho phép chúng ta điều khiển tốc độ cơ cấu chấp hành bằng cách sử dụng các máy thủy lực dạng thể tích có lưu lượng biến đổi. Thay đổi lưu lượng của máy thủy lực thường thực hiện bằng sự thay đổi thể tích công tác (thể tích riêng) của máy thủy lực trong hệ thống.
Cho nên ta gọi điều khiển dạng này là: điều khiển dạng thể tích hay Hệ truyền động thủy lực điều khiển bằng máy.
Trong các hệ thống thủy lực với động cơ thủy lực dạng chuyển động quay (motor thủy lực) có 3 phương án (phương pháp) điều khiển lưu lượng của các máy thủy lực này.
1. Thay đổi thể tích riêng của máy bơm thủy lực
2. Thay đổi thể tích riêng của động cơ thủy lực (motor thủy lực)
3. Thay đổi thể tích riêng của các máy bơm và motor thủy lực.

Đối với hệ truyền động thủy lực với động cơ thủy lực tịnh tiến (xilanh thủy lực) chỉ có thể sử dụng phương án thứ nhất.
Nghiên cứu sơ đồ cơ bản dưới đây:
Với hệ truyền động không có khả năng điều khiển:
Trong trường hợp lý tưởng ta có: Qb = Qđc.
V0b×nb = V0đc×nđc;
nđc = (V0b/V0đc) ×nb;

Thêm vào thông số điều khiển bằng máy thủy lực dạng thể tích lưu (Ngắn gọn: điều khiển bằng máy thủy lực – hoặc điều khiển dạng thể tích)
Thông số điều khiển máy bơm: eb = V'0b/V0b;
V'0b – thể tích làm việc hiện thời của máy bơm;
V0b – thể tích làm việc cực đại của máy bơm;
Thông số điều khiển của động cơ: eđc = V'0đc/V0đc;
V'0đc – thể tích làm việc hiện thời của động cơ;
V0đc – thể tích làm việc cực đại của động cơ;
Ta có:
eb×V0b×nb = eđc×V0đc×nđc;
nđc =(eb/eđc)× (V0b/V0đc) ×nb; (1)

TH1. Điều khiển bằng cách thay đổi thể tích riêng của máy bơm thủy lực :
Trong phương án này chúng ta sử dụng máy bơm có khả năng thay đổi lưu lượng. Khả năng thay đổi lưu lượng của máy bơm được thể hiện bởi thông số điều khiển máy bơm eb. Khi lưu lượng máy bơm thay đổi từ 0 tới cực đại. Thông số điều khiển eb thay đổi từ 0 tới 1.
Từ biểu thức (1) ta có : eđc = 1 ; eb = 0÷1;
nđc =eb× (V0b/V0đc) ×nb; (1.1)
1. Khi eb = 0 à nđc = 0 : động cơ đứng yên;
2. Khi eb = 1 à nđc = nđc.max : động cơ quay với vận tốc cực đại;
Momen xoắn đặt vào trục động cơ chỉ phụ thuộc vào tải trọng ngoài; từ đó xác định được áp suất làm việc của chất lỏng trong động cơ: pđc;
Ta có:
Mđc = ∆pđc×V0đc/(2π) ; ∆pđc = ∆pb ;
Nđc = Mđc×Ωđc = V0đc×∆pđc×nđc ;
Khi cố định giá trị ∆p, công suất động cơ Nđc tỷ lệ thuận với tốc độ quay (tần số quay) của động cơ nđc ;

TH2. Điều khiển bằng các thay đổi thể tích động cơ :
eb = 1 và eđc = var ;
Hình 3. a - Sơ đồ nguyên lý; b - Sự phụ thuộc của vận tốc, momen của motor thủy lực vào thông số điều khiển;
eM – hiểu là thông số điều khiển của motor thủy lực; chính là eđc .
Tần số quay của động cơ :
nđc =(1/eđc)× (V0b/V0đc) ×nb; (1.2)
1. Khi eđc = 1 àthì nđc = nđc.min : động cơ quay với vận tộc cực tiểu;
2. Khi eđc = 0 àthì nđc à ∞ ;
Ta có:
Mđc = ∆pđc×V'0đc/(2π)= ∆pđc×eđc×V0đc/(2π); ∆pđc = ∆pb ;
Từ (1.2) ta có eđc = f(1/nđc) à Mđc = f'(1/nđc) ;
Nđc = Mđc×Ωđc = V'0đc×∆pđc×nđc = eđc×V0đc×∆pđc× (1/eđc)× (V0b/V0đc) ×nb ;
Nđc = V0b×∆pđc×nb = Nb ;
Vậy Nđc không phụ thuộc vào nđc ;
Thông số điều khiển động cơ nhỏ gần với giá trị không là nhược điểm của phương pháp điều khiển này. Nghĩa là xuất hiện sự làm việc không ổn định của động cơ ; sau đó nó tự hãm. Đây là do quan hệ Mđc = f'(1/nđc). Khi nđc à ∞ thì Mđc à0 nên động cơ tự hãm và dừng. Vì tỷ lệ nghịch giữa Mđc và nđc gây nên sự làm việc không ổn định khi giá trị thông số điều khiển motor tiến về 0.

TH3. Thay đổi thể tích cả máy bơm lẫn động cơ thủy lực:
Sự điều khiển được thực hiện bằng cách lần lượt : Đầu tiên thay đổi thông số điều khiển của máy bơm khi giữ không đổi thể tích riêng của motor ; sau đó giữ cố định lưu lượng máy bơm ở cực đại và giảm thể tích riêng của động cơ. Giảm thể tích riêng của động cơ cho tới thông số điều khiển khi đạt được giá trị cực đại.
1. Chỉ điều khiển mỗi máy bơm
eđc = 1 ; eb = 0÷1 ;
eb = 0 à nđc = 0 ;
eb = 1 ànđc = nđc* ;
2. Chỉ điều khiển động cơ
eb = 1 ;
eđc giảm tới cực tiểu à nđc* tiến tới nđc.max ;

Sơ đồ thủy lực xe nâng tự động

Xe nâng tự động

Trong bài này mình và các bạn sẽ cùng nhau nghiên cứu sơ đồ thủy lực của một xe nâng tự động. Sơ đồ thủy lực của xe nâng như hình 1. Trên sơ đồ này có sử dụng các ký hiệu thủy lực thường là các chữ cái đầu của từ gốc trong tiếng Nga. Mình sẽ vừa giới thiệu vừa giải thích ký hiệu.

Với mạch thủy lực này chất lỏng công tác (hay chất lỏng làm việc – dầu thủy lực) được bơm thủy lực Н (Tiếng Nga là: насос) hút từ thùng chứa dầu, đi qua bộ lọc thủy lực Ф (Tiếng Nga: фильтр), đi qua máy bơm và thông qua các van phân phối Р1, Р2 và Р3 (Tiếng Nga: распределитель) đi vào hệ thống thủy lực của xe nâng tự động. Các van phân phối đảm bảo sự điều khiển xe nâng làm việc.


Cơ cấu kẹp thủy lực
Cơ cấu kẹp thủy lực bao gồm các thiết bị thủy lực sau: Van phân phối dạng con trượt Р1 (золотниковая распределитель), khóa thủy lực ЗМ2 (гидрозамок), và 2 van an toàn КП2 và КП3(предохранительный клапан). Đường ống dẫn thủy lực điều khiển khóa thủy lực ЗМ2 được nối với van phân phối P1. Khi con trượt của van phân phối P1 ở vị trí trung hòa (vị trí công tác giữa) đường điều khiển của khóa thủy lực ЗМ2 thông với thùng chứa. Bố trí như vậy đảm bảo tránh khỏi khả năng chất lỏng công tác thoát từ phần trên của xilanh thủy lực Ц1(гидроцилиндр) ra đường ống xả, có nghĩa là tránh làm giảm lực kẹp tải trọng của kẹp thủy lực.
Khi van phân phối P1 ở vị trí làm việc bên trái, chất lỏng công tác từ máy bơm đổ vào khoang dưới của xilanh thủy lực Ц1. Đồng thời áp suất chất lỏng mở khóa thủy lực ЗМ2 cho phép chất lỏng chảy từ khoang trên của xilanh thủy lực Ц1 về thùng chứa. Và kẹp thủy lực được nhả ra. Khi van phân phối P1 ở vị trí công tác bên phải chất lỏng công tác từ khoang trên của xilanh thủy lực Ц1 đi qua khóa thủy lực ЗМ2, khi đó khóa thủy lực làm việc như 1 van 1 chiều. Và chất lỏng công tác từ khoang dưới của xilanh Ц1 đổ về thùng chứa. Kẹp thủy lực kẹp tải trọng.

Các van an toàn КП2 và КП3 phòng ngừa hệ thống kẹp thủy lực khỏi sự quá tải trong mối quan hệ với lưu lượng chất lỏng đổ vào đường ống thủy lực này hoặc đường ống thủy lực khác.

Bộ phận nâng và hạ cơ cấu kẹp thủy lực.
Bộ phận này bao gồm các thiết bị: 2 xilanh tác động đơn giống nhau Ц2 và Ц3, 2 xilanh này hoạt động thông qua bộ chia dòng ДП (делитель потока) và bộ tổng hợp dòng СП (сумматор потока) đảm bảo tải trọng nằm ngang khi nâng lên và hạ xuống. 2 xilanh được phân bố trong 2 trụ nâng trái phải. Khóa thủy lực ЗМ1 có tác dụng loại bỏ khả năng tự hạ xuống của tải trọng (xilanh tự trượt). Van КП4 có tác dụng tạo áp suất trong đường ống dẫn nhằm phòng ngừa hệ thống thủy lực khỏi sự phá hủy trong trường hợp tải trọng được nâng lên vượt quá trọng lượng cho phép. Khi van phân phối P2 ở vị trí công tác bên trái, chất lỏng đi qua bộ chia dòng ДП vào xilanh Ц2 và Ц3 và tải trọng được nâng lên. Khi đó khóa thủy lực ЗМ1 làm việc như một van một chiều.
Khi van phân phối ở vị trí công tác bên phải: khóa thủy lực mở ra rót chất lỏng từ các xilanh về thùng chứa. Bộ phận kẹp thủy lực dưới tác động của trọng lượng tải trọng tự hạ xuống (trường hợp khi bốc dỡ hàng hóa).

Bộ phận dịch chuyển ngang cơ cấu kẹp thủy lực.
Xilanh Ц4 có tác dụng dịch chuyển kẹp thủy lực theo phương ngang. Dưới sự điều khiển van phân phối 3 vị trí công tác P3 ở các vị trí công tác khác nhau cho hiệu quả điều khiển sự dịch chuyển của xilanh Ц4.
Tổ hợp van tiết lưu kết hợp van một chiều ДР có tác dụng điều khiển tốc độ dịch chuyển kẹp thủy lực theo phương ngang. Điều khiển vận tốc thực hiện khi điều tiết lưu lượng chất lỏng tại đầu ra hoặc đầu vào xilanh thủy lực Ц4. Van КП1 có công dụng phòng ngừa hệ thống thủy lực khỏi sự quá tải. Van một chiều KO1 cần thiết cho việc chất lỏng công tác tự do chảy vòng qua bộ lọc thủy lực Ф trong trường hợp bộ lọc bị tắc, hỏng hoặc quá hạn sử dụng.

Hy vọng bài viết có ích cho mọi người!

Chia sẻ bài viết tới bạn bè!